Chúa Nhật, February 28th, 2021

Theo Dõi Tận Thế, bài 28

Cái Bóng của Quá Khứ

Khải Huyền 3:1–6

Hãy viết cho thiên sứ của Hội Thánh Sardis rằng: Đây là lời phán của Đấng có bảy linh của Đức Chúa Trời, và bảy ngôi sao: ‘Ta biết các công việc của con; con có tiếng là sống, nhưng lại là chết. Vậy, hãy tỉnh thức và làm cho vững những gì còn lại, tức là những gì gần chết, vì Ta không thấy các công việc của con là trọn vẹn trước mặt Đức Chúa Trời Ta. Hãy nhớ lại con đã nhận và nghe thế nào; hãy giữ lấy và ăn năn đi. Nếu con không tỉnh thức thì Ta sẽ đến như kẻ trộm; và con sẽ không biết giờ nào Ta thình lình đến với con. Nhưng ở Sardis, con còn có vài người chưa làm ô uế y phục mình; họ sẽ mặc áo trắng và đi với Ta, vì họ thật xứng đáng. Người nào thắng sẽ được mặc áo trắng như vậy; Ta sẽ không xóa tên người ấy khỏi sách sự sống, và sẽ công bố tên người ấy trước mặt Cha Ta và trước mặt các thiên sứ của Ngài. Ai có tai, hãy nghe lời Thánh Linh phán với các Hội Thánh.’

Lá thư thứ năm của Chúa được gửi cho Hội Thánh tại Sardis; Sardis một thành phố được xây lên vào khoảng 500 năm trước công nguyên, sụp đổ trong chiến tranh, được xây dựng lại, rồi bị động đất tàn phá, rồi được xây dựng lại một lần nữa. Đức Chúa Jesus xuất hiện với Hội Thánh Sardis qua hình ảnh Đấng có bảy Linh của Đức Chúa Trời và có bảy ngôi sao: “Hãy viết cho thiên sứ của Hội Thánh Sardis rằng: Đây là lời phán của Đấng có bảy linh của Đức Chúa Trời, và bảy ngôi sao: ‘Ta biết các công việc của con; con có tiếng là sống, nhưng lại là chết” (3:1).

Bảy Linh của Đức Chúa Trời còn được gọi là Thần của Đức Jehovah (Êsai 11:2)Thần của Đức Giê-hô-va sẽ ngự trên Ngài, Thần khôn ngoan và thông sáng, Thần mưu lược và quyền năng, Thần tri thức và kính sợ Đức Giê-hô-va.” Và có nghĩa là sự hiện diện sung mãn của Đức Thánh Linh, còn bảy ngôi sao là các mục sư tại bảy Hội Thánh nhận thư của Chúa. Hội Thánh Sardis bị quở rằng họ có tiếng là sống, nhưng thực tế thì họ đã chết. Sardis có nghĩa là những kẻ thoát khỏi, hoặc dòng dõi còn lại. Tình trạng Hội Thánh Sardis được nói đến trong thư nầy áp dụng cho thời kỳ lịch sử của Hội Thánh từ năm AD 1517 tới 1750; tức là thời kỳ diễn ra những cuộc phản kháng của một số giáo phẩm ở Bắc Âu đòi hỏi giáo quyền La-mã cải tổ giáo hội theo chân lý chép trong Kinh Thánh như thời Hội Thánh sơ lập. Vì La-mã lên án, dứt phép thông công và truy bắt để xử tử, những người ấy ly khai và thành lập các tổ chức khác ở nhiều địa phương tại Âu Châu, nên ngày nay người ta gọi họ là phong trào cải cách Tin Lành.

Trước thời kỳ cải cách ấy đã có các cuộc phản kháng của Jan Hus, John Wycliff và Erasmus; từ năm 1517 trở đi thì Martin Luther, Huldrych Zwingli, Jean Calvin, và John Knox là các lãnh tụ cải cách. Nhờ Kinh Thánh được dịch ra ngôn ngữ phổ thông rồi phổ biến khắp nơi bởi kỹ thuật in với số lượng nhiều và giá rẻ, tín hữu các nước Bắc Âu thời ấy được xem Kinh Thánh bằng ngôn ngữ của mình lần đầu trong đời họ, chân lý Lời Chúa được phổ biến, những giáo lý và các sự thực hành tôn giáo sai lầm rất trầm trọng của giáo hội La-mã bị phơi bày, không che đậy được nữa, nên phong trào cải tổ Hội Thánh đã lan tràn khắp Âu Châu. Thế nhưng khi thời gian trôi qua thì những giáo hội và hệ phái Cải Cách ấy chỉ là cái bóng sự sống của quá khứ. Họ có tiếng là sống, nhưng đã chết về mặt tâm linh, tổ chức và cách hành đạo.

Cuộc cải tổ ở thế kỷ 16 không phải là thuần túy cải cách tôn giáo. Nó có động lực chính trị phía sau. Nó là phản ứng chống trả sự hà khắc của giới giáo quyền tự tôn họ lên trên thẩm quyền của Lời Đức Chúa Trời. Nhưng cuộc cải cách ấy không hoàn thành được mục tiêu phải làm là thánh sạch hóa giáo hội. Những hệ phái trong phong trào nầy vẫn còn bị ràng buộc bởi hình thức và nghi lễ thờ phượng lòe loẹt vô hồn của công giáo La-mã; họ có quá ít bằng chứng của sự sống tâm linh. Tàn dư của các giáo hội tự xưng là chính thống từ thời kỳ nầy rất dễ nhận ra; vì có những vấn đề tuy bị Kinh Thánh kết tội trọng rõ ràng, nhưng bây giờ trở nên rất lờ mờ, ví dụ họ không tin Chúa kết án sự thực hành đồng tính luyến ái, hôn nhân đồng tính, nữ quyền phá thai, công bằng xã hội theo quan điểm cộng sản, mê cờ bạc, phim ảnh đồi trụy, thiền định và bói toán, vv…

Không phải các giáo hội thuộc phái Tin Lành hiện nay đều ra từ phong trào cải cách. Một số giáo hội nguyên thủy tự xưng là ‘thượng giáo hội’ nghĩa là những nhóm tách ra từ công giáo La-mã, như Lutheran, Trưởng Lão, Cải-Cách, Anh Giáo, và Giám Lý. Những hệ phái phổ thông khác thành hình trong thế kỷ 19 và 20, cũng gọi là Tin Lành, nhưng không thuộc về thượng giáo hội, hiện nay đang hoạt động ở khắp thế giới thì không có liên hệ gì với công giáo La-mã hoặc Chính-thống-giáo Đông-phương. Cho nên Sardis là nói về thời kỳ các giáo hội Cải Cách, chưa đề cập tới các hệ phái mới khai sinh sau nầy. Thật ra, các giáo hội Cải Cách cũ vẫn tiếp tục dùng các thói tục ngoại giáo, là các truyền thống của người Babylôn, do Pergamum và Thyatira du nhập vào Hội Thánh. Vì vậy họ mau chóng mất hết sự sống của Chúa ban cho. Sardis là thời tiếp sau Pergamum và Thyatira; sự cải tổ nửa vời không đủ đem sức sống sinh động vào Hội Thánh.

Ngày nay phần lớn giáo phẩm của các giáo hội Cải Cách không còn tin Đức Chúa Jesus đã giáng sinh qua trinh nữ Mary. Họ không tin một người nữ đã thụ thai và sinh con mà vẫn còn trinh-trắng; họ cũng không tin vào sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus. Họ không tin vào thiên đàng và hỏa ngục. Nguyên do là vì sự cải cách của họ chỉ nửa vời, không trọn vẹn theo cách Chúa nhìn.

Chủ đề của cuộc cải tổ là: “Người công nghĩa sống bởi đức tin.” Nghĩa là người ta được tha tội và cứu chuộc bởi lòng tin vào công tác chuộc tội đã hoàn tất của Đức Chúa Jesus Christ chứ không phải qua sự khổ tu ép xác; cũng không phải nhờ giáo hội làm trung gian giữa người với Chúa. Tuy vậy, tình trạng những nơi xưng là Hội Thánh của Chúa nhưng không khác các câu lạc bộ xã hội là bao vẫn phát triển mạnh trong những hệ phái thuộc ‘thượng giáo hội.’ Ví dụ phép báp têm trẻ sơ sinh không có nền tảng Kinh Thánh mà vay mượn từ tôn giáo của người Babylôn; hoặc dùng các biểu tượng ngoại giáo, kỷ niệm các thứ lễ lạt của ngoại giáo rồi đặt tên lại theo Cơ-đốc-giáo. Ví dụ lễ giáng sinh cử hành vào ngày 25/12 hàng năm thật ra là sinh nhật của Tammuz và mẹ là Semiramis thần của người Babylon cổ đại, vì thế trong lễ ấy có mẹ với hài nhi.

Lễ Easter vào dịp Phục Sinh lấy từ tên nữ thần sinh đẻ Ashtarte của ngoại giáo. Công giáo đã du nhập các thói tục của họ như trứng gà sơn nhiều màu tượng trưng cho sự sống vĩnh cửu, rồi lấy luôn tên Easter từ tên Ashtarte, mà các giáo hội cải cách vẫn thực hiện tập tục ấy đến nay. Cho nên, Chúa bảo: “Vậy, hãy tỉnh thức và làm cho vững những gì còn lại, tức là những gì gần chết, vì Ta không thấy các công việc của con là trọn vẹn trước mặt Đức Chúa Trời Ta. Hãy nhớ lại con đã nhận và nghe thế nào; hãy giữ lấy và ăn năn đi. Nếu con không tỉnh thức thì Ta sẽ đến như kẻ trộm; và con sẽ không biết giờ nào Ta thình lình đến với con” (3:2–3). Chúa cho biết Ngài sẽ đến bất ngờ đối với ai không chịu thức tỉnh. Sự đến nầy khác với lần Ngài đến mọi mắt đều trông thấy.

Nhưng ở Sardis, con còn có vài người chưa làm ô uế y phục mình; họ sẽ mặc áo trắng và đi với Ta, vì họ thật xứng đáng. Người nào thắng sẽ được mặc áo trắng như vậy; Ta sẽ không xóa tên người ấy khỏi sách sự sống, và sẽ công bố tên người ấy trước mặt Cha Ta và trước mặt các thiên sứ của Ngài. Ai có tai, hãy nghe lời Thánh Linh phán với các Hội Thánh” (3:4–6).

Áo trắng tượng trưng cho sự tinh sạch. Trong số các giáo hội đầy sự bại hoại ấy vẫn còn một số con cái thật của Chúa trung thành với Lời Ngài, mặc dù họ vẫn sinh hoạt trong các giáo hội ấy. Một chi tiết nữa đáng chú ý là Chúa hứa sẽ không xóa tên những người ấy khỏi sách sự sống. Nghĩa là có những người đã được ghi tên trong sách sự sống nhưng sẽ bị Chúa xóa đi. Xóa đi nghĩa là tên của người ấy sẽ bị vĩnh viễn lấy ra khỏi sách. Những ai đang khư khư chủ trương và giảng dạy rằng: ‘Hễ đã tin nhận Đức Chúa Jesus rồi thì dù sống thế nào vẫn được cứu khi tận thế,’ sẽ khó giải thích vấn đề nầy. Họ phải lúng túng giải thích lòng vòng để né tránh sự thật.

Hãy thử suy nghĩ: Nếu tên của những người đã được biên vào Sách Sự Sống trên thiên đàng sẽ không bao giờ bị xoá, thì lời cảnh cáo mà Đức Chúa Jesus viết cho Hội Thánh Sardis nầy là vô nghĩa và vô ích! Ngài nói vậy để làm chi? Vì lý do nào Chúa lại đưa ra điều Ngài sẽ không thể làm? Những ai chủ trương như thế chắc có ý cho rằng: ‘Đây là những lời Đức Chúa Jesus đe doạ thôi, chứ Ngài sẽ không làm đâu!’ Giáo lý ấy là một sự lừa bịp trơ tráo của satan, nhưng một số người tự xưng là đã được tái sanh và nhận lãnh Đức Thánh Linh, vẫn sử dụng nhằm trấn an thành viên yếu đuối trong giáo hội của họ, hoặc họ tự trấn an mình vì không biết có nắm chắc sự cứu rỗi cho chính mình hay không. Một giới người khác thì cố sức bảo vệ lý luận của hệ phái họ, dù không biết làm cách nào giải thích được lời Kinh Thánh trái ngược với điều họ suy diễn.

Để tên chúng ta khỏi bị xoá, chỉ còn một phương cách: “Ai có tai hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng mọi tín hữu ở các Hội Thánh” và làm cho sống những việc đang ngắc ngoải, để có thể được hưởng tất cả hạnh phúc kỳ diệu của thiên đàng hứa ban cho mọi người tin. Kỳ tới sẽ cùng nhau xem xét thế nào là sống nhưng lại là chết.

TheoDoiTanThe28.docx

Rev. Dr. CTB

Write a comment:

You must be logged in to post a comment.