Kính Sợ Đức Jehovah, 18
1Côrinhtô 10:12
“Vậy nên, ai tưởng mình đứng, hãy giữ kẻo ngã.“
Đức Chúa Jesus đã sống lại để xưng mọi người nào tin Ngài là công chính, tức là vô tội trước mặt thiên đàng. Có lý thuyết thần học dạy rằng người đã được xưng công chính sẽ không bao giờ mất sự cứu rỗi người ấy đã nhận được. Lý thuyết ấy cho rằng người nào đã được Đức Chúa Trời định sẵn được cứu rỗi, thì ơn cứu rỗi ấy là vĩnh viễn, không bao giờ mất. Vấn đề nầy gây ra sự bất đồng ý kiến giữa các thần học gia với nhau và với tín hữu. Bởi vì, dù tín hữu không phải là thần học gia hoặc được huấn luyện ở Trường Kinh Thánh, nhưng qua những lời Kinh Thánh họ suy gẫm hàng ngày, thì có nhiều điều khiến họ thắc mắc và không đồng ý với một số ý kiến thần học.
Ví dụ câu Kinh Thánh vừa đọc hồi nãy. Nếu sau khi nhận được ơn cứu rỗi không ai sợ bị mất, thì đâu cần phải cẩn thận giữ để khỏi bị ngã? Vậy, lời quả quyết rằng tín hữu sẽ không bao giờ mất ơn cứu rỗi sau khi được xưng công chính, do ai đề xướng và có từ lúc nào? Vào thời kỳ cải cách giáo hội ở thế kỷ 16, tại Âu Châu có ông John Calvin đề xướng thuyết tiền định. Ông cho rằng mọi việc Chúa đã định sẵn vì Ngài biết trước mọi việc. Người ta được cứu hay không được cứu thì đã định sẵn rồi. Chúa đã định thì không thể thay đổi, vv. Vậy, thuyết ấy có giá trị ra sao? Có chỗ nào trong Kinh Thánh nói khác hay không? Vì có những câu cảnh cáo, nên chúng ta phải xem xét kỹ.
Mục Sư lừng danh Charles Spurgeon của Anh Quốc đã từng báo động: “Nguyên liệu để tạo nên một ác quỷ chính là một thiên thần. Nguyên liệu để tạo nên con của sự hư mất từng là một sứ đồ; và nguyên liệu để tạo nên kẻ bội giáo kinh khiếp nhất chính là một người gần như thành ông thánh.” Chính chúng ta là những người tin Chúa đều biết rõ sự yếu đuối của bản tánh xác thịt trong mình. Sứ đồ Phierơ giải thích (2Phierơ 2:4) “Đức Chúa Trời chẳng dung thứ các thiên sứ khi họ phạm tội, nhưng ném vào hỏa ngục và giam giữ trong nơi tối tăm để chờ ngày phán xét.” Thiên sứ là các vị ở thiên đàng. Họ biết Đức Chúa Trời, họ thấy vinh quang của Ngài, và họ ở nơi không có tội lỗi, nhưng trong số họ vẫn có thiên thần phạm tội. Chẳng phải họ được phép ở đó sao?
Chúng ta tin Đức Chúa Trời biết rõ mọi việc. Chúng ta tin Ngài sẽ giúp đỡ những con cái trung tín khỏi sự thử thách. Nhưng Ngài không ép buộc ai không được phép phạm tội. (2Phierơ 2:9) “Chúa biết làm thế nào để giải cứu những người tin kính khỏi sự thử thách, và giữ kẻ bất chính dưới hình phạt cho đến khi phán xét.” Chúng ta biết con người được Chúa ban cho ý chí tự do chọn lựa giữa ác với thiện. Vì vậy, lời cảnh tỉnh của Sứ Đồ Phaolô đáng cho chúng ta lưu tâm gìn giữ tình trạng được xưng công chính.
Kinh Thánh nói rất rõ về hậu quả của những người sa bại, phản bội Đấng Cứu Chuộc mình, và xúc phạm Đức Thánh Linh (Hebrews 10:26–29) “Vì nếu chúng ta đã nhận biết chân lý rồi, mà lại cố ý phạm tội, thì không còn có sinh tế nào chuộc tội được nữa, nhưng chỉ kinh khiếp đợi chờ sự phán xét và lửa hừng sẽ đốt cháy những kẻ chống nghịch mà thôi. Ai vi phạm luật pháp Môi-se, nếu có hai ba người làm chứng, thì chết đi không thương xót. Phương chi kẻ giày đạp Con Đức Chúa Trời, coi thường huyết của giao ước, tức là huyết đã thánh hóa mình, lại còn xúc phạm Thánh Linh của ân điển, thì anh em nghĩ người ấy không đáng bị trừng phạt nặng nề hơn sao?”
Lời khuyên dạy của Sứ Đồ Phaolô có ý nghĩa gì? Ai tưởng mình đứng, nghĩa là đinh ninh rằng mình vững vàng, không thể nào bị cám dỗ mà phạm tội. Những người tự cao về khả năng hiểu biết Kinh Thánh, thèm muốn được anh chị em tín hữu nể phục, tự hào về đời sống đạo, thì có nguy cơ Chúa không còn là trung tâm của đời sống, và sa bại lúc nào không hay. Hãy biết rằng khi chúng ta còn sống trong xác thịt, sự sa ngã và phạm tội rất dễ xảy ra. “Hãy giữ” tức là phải rất cẩn thận xem xét ý nghĩ và việc làm của mình. Tác giả Thư Tín Hebrew cũng khuyên (Hebrews 3:12) “Thưa anh em, hãy cẩn trọng, kẻo ai trong anh em có lòng dữ và chẳng tin mà trở lòng lìa bỏ Đức Chúa Trời hằng sống chăng.” Vậy thì nguyên nhân nào khiến chúng ta có thể vấp ngã?
Nguyên nhân chính là chưa tôn Đức Chúa Trời làm trung tâm của đời sống mình. Hễ ai tự xem mình là trung tâm, hoặc sự giàu sang, danh vọng, hay gia đình, tình yêu, nghề nghiệp của mình là quan trọng nhất, thì Chúa chưa bao giờ là trung tâm của đời sống. Dấu hiệu nào có thể giúp nhận ra tình trạng nầy? Không có hoặc chưa ý thức một cách nhạy bén rằng việc mình làm hay lời mình nói sẽ làm buồn lòng Chúa. Có nhiều chữ chúng ta nói do quen miệng hay bị ảnh hưởng bởi xã hội hay đám đông. Chúa Nhật thì nói là chủ nhật. Đức Chúa Jesus thì bỏ chữ Đức đi. Người có tánh hấp tấp nói không suy xét, dễ bị chạm tự ái, bị vật chất thu hút, là dấu hiệu chưa nhạy bén đối với cách Chúa nhìn mình như thế nào. Khi chúng ta đặt Chúa ở trung tâm thì rất nhạy về Chúa.
Phải làm gì để đặt Chúa vào trung tâm đời sống? Trước hết, hãy đặt Chúa làm nền tảng trong mọi quyết định, những việc ưu tiên, và những mối liên hệ hàng ngày của chúng ta, qua cách hành xử có định ý trong tâm linh. Đây là những việc chính phải làm: 1. Dành thì giờ cho Chúa, đọc Kinh Thánh và trò chuyện với Chúa mỗi ngày. 2. Đầu phục Chúa và hy sinh cái riêng. Từ bỏ những gì ngăn trở việc đặt Chúa ở trung tâm. 3. Xem giờ thờ phượng chung với Hội Thánh là ưu tiên. 4. Tập cách suy nghĩ thế nào để đặt Chúa ở trung tâm. 5. Kết hợp niềm tin vào Chúa trong những quyết định hàng ngày. 6. Phát triển những thói quen thuộc linh (ví dụ, việc gì cũng cảm ơn Chúa). 7. Khởi đầu bằng những thói quen nhỏ, ví dụ như suy gẫm một câu Kinh Thánh, hát thánh ca, vv.
Ai thực tập thường xuyên sẽ thấy lòng mình rất yêu mến Chúa, và không bao giờ muốn Chúa bị buồn lòng. Lúc ấy chúng ta sẽ khó ngã, vì biết mình yếu đuối phải nương cậy vào Chúa luôn.
KinhSoDucJehovah18.docx
MS CTB