Thời Tạo Thiên Lập Địa, 05
Sáng Thế 1:20–23
“Đức Chúa Trời phán: ‘Nước phải đầy dẫy các loài thủy sinh vật, và phải có các loài chim bay lượn trên mặt đất dưới vòm trời.‘ Đức Chúa Trời sáng tạo các loài cá khổng lồ, mọi loài động vật thủy sinh, tùy theo loại mà sinh sôi nảy nở trong nước, và mọi loài chim có cánh tùy theo loại. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt đẹp. Đức Chúa Trời ban phước cho các loài đó và phán: ‘Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, làm cho đầy dẫy dưới biển; còn các loài chim hãy gia tăng thật nhiều trên đất.‘ Vậy, có buổi tối và buổi sáng. Đó là ngày thứ năm.”
Nước, đất, và khí là ba dạng vật chất khác nhau đã được Đức Chúa Trời tạo nên khi Ngài sáng tạo trời và đất. Ngài tạo các môi trường sẵn sàng để các sinh vật sẽ được Ngài sáng tạo có thể sinh sống trong các môi trường ấy. Mọi sự việc diễn ra trong cõi thể chất đều vận hành dưới những định luật vật lý mà Đức Chúa Trời đã lập. Lời Đức Chúa Trời phán có quyền năng sáng tạo. Nếu Ngài muốn và phán thì sự việc phải xảy ra trong chớp mắt. Thi-Thiên 33:6, 9 “Các tầng trời được làm nên bởi lời Đức Chúa Trời, các đạo binh tinh tú do hơi thở của miệng Ngài mà có…. Vì Ngài phán thì mọi sự liền có; Ngài truyền lệnh thì muôn vật vững bền.” Nhưng, trong sáu ‘Yom‘ sáng tạo thế gian thì Chúa đặt mọi vật Ngài sáng tạo dưới các định luật mà Ngài đã thiết lập cho cõi thể chất.
Khi quan sát công cuộc Đức Chúa Trời sáng tạo thế gian, chúng ta thấy ở ‘Yom‘ thứ nhất, Ngài dùng ánh sáng lập ngày và đêm, tạo nền tảng căn bản cho thời gian. Ở ‘Yom‘ thứ nhì, Ngài tạo nên khoảng không ngăn cách nước ở trên với nước ở dưới làm nền tảng căn bản cho khí hậu thời tiết của địa cầu. Ở ‘Yom‘ thứ ba, Ngài làm cho đất trồi lên thành lục địa, nước tụ lại thành biển cả, rồi làm cho cỏ cây, thảo mộc phải mọc lên, tạo nền tảng căn bản về thực phẩm. Ba chức năng vĩ đại – thời gian, thời tiết và thực phẩm – là nền tảng cho sự sống của mọi sinh vật. Ánh sáng mặt trời, chất liệu vô cùng cần thiết cho các loài thảo mộc trên địa cầu sống và tăng trưởng, thì đã được Chúa cho chiếu xuống trái đất ở ‘Yom‘ đầu tiên, hai ‘Yom‘ sau đó là không khí, rồi đất.
Người đọc sách Sáng Thế thường nghĩ rằng, ở mỗi Yom, Đức Chúa Trời sẽ ‘sáng tạo‘ một thứ mới; nhưng Kinh Thánh chép rằng ở mỗi Yom Chúa ‘phán‘ việc gì đó. Qua Yom thứ tư thì lời phán của Ngài không phải để sáng tạo, mà là tuyên bố về công việc Ngài định cho những vật mà Ngài đã dựng nên. Cũng có thể nói, lời Đức Chúa Trời ‘phán‘ ở đây là công bố mục đích mà Ngài đã dựng nên mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao là để soi sáng và phân biệt ngày với đêm, mùa, ngày tháng và năm. Cho nên, chữ tạo nên hai vì sáng lớn không phải là Chúa ‘sáng tạo‘ (Bara/create) mà là ‘lập‘ (Asah/make) chúng thi hành nhiệm vụ Ngài đã giao cho chúng.
Sẽ có người thắc mắc rằng, tại sao chỉ để công bố mục đích mà Chúa phải dùng tới một Yom? Câu trả lời là vì địa cầu cần tới một Yom để tạo thành đất khô và biển, thì để cho các mùa ổn định quanh năm trong thời quả đất còn rất hỗn độn, trước khi các động vật có thể sinh sống và gia tăng, thì cũng cần thời gian của một Yom, để thời tiết trên địa cầu ổn định trước đã. Nếu hiểu Yom là các thời kỳ lâu dài, thì các thời lượng của mỗi Yom lúc ấy có thể dài ngắn không bằng nhau.
Các nhà giải kinh gặp khó khăn trong việc giải thích lý do tại sao tới Yom sáng tạo thứ tư mới nói tới các thiên thể, như là tới lúc ấy chúng mới được tạo dựng. Việc Đức Chúa Trời công bố mục đích của các nguồn sáng trong Yom thứ tư không có nghĩa là chúng đã không thực hiện mục đích soi sáng ấy từ “ban đầu.” Điểm chính của lời ký thuật là trình bày rằng tới Yom thứ tư Chúa mới giải thích mục đích Ngài tạo nên mặt trời mặt trăng và các ngôi sao từ “ban đầu.”
Tại sao tới Yom thứ tư Chúa mới công bố phận sự của mặt trời, mặt trăng, và tinh tú? Ấy là để mô tả kết cấu chung của chuyện tích sáng tạo. Vì Kinh Thánh cho biết Đức Chúa Trời tạo nên thế gian trong sáu Yom; cho nên đương nhiên là các Yom có liên hệ chặt chẽ với nhau. Nếu chỉ suy xét riêng rẽ từng Yom thì khó thấy mối liên hệ giữa các Yom là như thế nào; nhưng nếu biết nhìn theo kiểu tổng quan, người ta sẽ thấy sự tương ứng giữa Yom 4 với Yom 1; Yom 5 với Yom 2; và Yom 6 với Yom 3. Trong ba Yom đầu, công việc của Đức Chúa Trời nối tiếp nhau sửa soạn bầu trời, biển và đất. Rồi trong ba Yom sau, thì hoạt động sáng tạo của Ngài là hoàn thiện ba cõi đó.
Cụ thể là ở Yom thứ tư, Chúa công bố phận sự của mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao chiếu sáng quả đất, phân biệt ngày đêm, làm ra mùa, là tương ứng với ánh sáng của Yom thứ nhất. Qua Yom thứ năm, Chúa ra lệnh cho biển phải đầy cá và mọi sinh vật ở biển, tương ứng với nước ở dưới đã được phân cách với nước ở trên, rồi phải có chim bay trên khoảng không mà Ngài đã tạo dựng vào Yom thứ nhì. Qua Yom thứ sáu Chúa dựng nên thú vật và loài người, tương ứng tới đất xuất hiện và cây cối ở Yom thứ ba.
Lấy gì để chứng minh các Yom là những thời kỳ lâu dài? Về sau nầy, người ta đã biết tuổi của cây cối qua các thớ vòng trong thân; mỗi vòng là một năm. Vì vậy, khi gặp các khối than đá nguyên vẹn là những thân cây hàng chục ngàn năm tuổi, người ta biết hai Yom 3 và 4 là lâu dài. Ví dụ ở Trung Âu có than đá từ cây 11,460 tuổi. Than đá ở Bắc Mỹ của nhiều cây hơn 8,500 tuổi. Như vậy, trong thời ấy nhiều khu rừng bị động đất chôn rất sâu; gỗ bị sức nóng nung ép hơn ba trăm triệu năm thành than đá và kim cương. Cho nên, hai ‘Yom‘ thứ ba và thứ tư phải rất lâu dài để cây cối tăng trưởng thành những cây khổng lồ. Và lúc đó, các động vật chưa có mặt trên trái đất khi những cơn địa chấn dữ dội chôn vùi các rừng cây có hàng vạn năm tuổi.
Tới Yom thứ năm thì Đức Chúa Trời sáng tạo các động vật (Sáng Thế 1:20–23) “Đức Chúa Trời phán: ‘Nước phải đầy dẫy các loài thủy sinh vật, và phải có các loài chim bay lượn trên mặt đất dưới vòm trời.‘ Đức Chúa Trời sáng tạo các loài cá khổng lồ, mọi loài động vật thủy sinh, tùy theo loại mà sinh sôi nảy nở trong nước, và mọi loài chim có cánh tùy theo loại. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt đẹp. Đức Chúa Trời ban phước cho các loài đó và phán: ‘Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, làm cho đầy dẫy dưới biển; còn các loài chim hãy gia tăng thật nhiều trên đất.‘ Vậy, có buổi tối và buổi sáng. Đó là ngày thứ năm. Đã có biển, đất khô, thực vật, cây ăn trái, và các dấu hiệu chuyển mùa, tháng và năm trên trái đất vào giai đoạn nầy.
Giống như các phần khác trong đoạn 1, nếu chú ý các chi tiết, độc giả sẽ thấy mục đích chung của tác giả. Trước hết, hãy chú ý tới chữ sáng tạo (bara). Nó được dùng sáu lần trong câu chuyện sáng tạo (1:1, 21, 27 x3; 2:3). Ở các chỗ khác trong đoạn nầy, chữ làm (asah) được dùng để mô tả các hành động của Đức Chúa Trời. Tại sao động từ bara được dùng để tả sự sáng tạo của Chúa đặc biệt về “các loài cá khổng lồ” (1:21) ở Yom 5? Có ý kiến cho rằng chữ “bara” cố ý nhấn mạnh hồi khởi đầu một giai đoạn sáng tạo mới. Lần đầu tiên chúng ta thấy sự tạo dựng “các động vật,” một nhóm hoàn toàn khác với loài thực vật và thế giới thể chất của các Yom trước. Vì vậy, mỗi giai đoạn của cuộc sáng tạo được đánh dấu bằng động từ ‘bara:‘ Vũ trụ, các sinh vật, và nhân loại.
ThoiTaoThienLapDia05.docx
MS CTB