Kính Sợ Đức Jehovah, 24
Hêbơrơ 12:28
“Cho nên, vì chúng ta nhận được một vương quốc không hề rúng động, chúng ta hãy biết ơn và lấy lòng kính sợ mà phục vụ Đức Chúa Trời một cách vui lòng Ngài.”
Không ai có thể định nghĩa một cách đầy đủ sự kính sợ thánh là gì. Kính sợ Chúa là kính trọng, tôn vinh, sùng kính, và tôn thờ Ngài vượt lên trên bất cứ ai và bất cứ thứ gì khác. Trong bài cầu nguyện chung có câu: “Danh Cha được tôn thánh,” nghĩa là được tôn kính vô cùng. Người kính sợ Chúa là người theo đuổi lòng Ngài, yêu những gì Chúa yêu, ghét những gì Chúa ghét. Ghét không có nghĩa là không thích mà là rất ghét. Những gì Chúa xem là quan trọng thì chúng ta xem là quan trọng. Cái gì chẳng quan trọng đối với Chúa thì đừng quan tâm. Như vậy, kính sợ Chúa tức là phải ghét tội lỗi, ghét sự bất công, lánh xa khỏi điều gì hình như ác. Dù đó là ý tưởng, lời nói, hay hành vi. Nghĩa là cầm giữ miệng lưỡi mình để không thốt ra bất cứ điều gì gian dối hoặc không thật.
Kính sợ Chúa là giữ các hành động, cách hành xử, những hành vi bên ngoài của mình hợp nhất với sự suy nghĩ, các động lực thúc đẩy, và các sự tin tưởng trong lòng. Người kính sợ Chúa sống cách khiêm cung đối với Ngài và thành thật khiêm tốn với mọi người. Kính sợ Chúa là dâng lên Ngài những gì thuộc về Ngài, dâng lên lòng ca ngợi, lòng ngưỡng vọng, tâm tình cảm tạ, và sự thờ phượng mà Ngài đáng được hưởng. Hãy để ý quang cảnh Ngai của Đức Chúa Trời được miêu tả trong Kinh Thánh: Các Seraphim và Cherubim cùng các trưởng lão dâng sự tôn kính của họ lên Đức Chúa Trời với sự tôn kính vô cùng
(Êsai 6:3-4) “Các Seraphim cùng nhau tung hô rằng: ‘Thánh thay, thánh thay, thánh thay là Đức Jehovah vạn quân! Khắp đất đầy dẫy vinh quang Ngài!‘ Tiếng tung hô ấy vang dội làm cho các trụ cửa nơi ngưỡng cửa rung chuyển, và đền thờ đầy dẫy khói.”
Khải Huyền 4:8–11). “Bốn sinh vật ấy, mỗi vị có sáu cánh, chung quanh và bên trong mình đầy những mắt; ngày đêm nói luôn không dứt: ‘Thánh thay, thánh thay, thánh thay, Chúa là Đức Chúa Trời Toàn Năng, ĐẤNG ĐÃ CÓ, HIỆN CÓ VÀ ĐANG ĐẾN!‘ Mỗi khi các sinh vật dâng vinh quang, tôn trọng và cảm tạ lên cho Đấng ngồi trên ngai, là Đấng sống đời đời, thì hai mươi bốn trưởng lão phủ phục trước mặt Đấng ngồi trên ngai và thờ lạy Đấng sống đời đời. Họ ném mão triều thiên của mình trước ngai, và nói: ‘Lạy Đức Chúa Trời là Chúa của chúng con, Chúa đáng được vinh quang, tôn trọng và uy quyền, vì Chúa đã tạo dựng muôn vật, và do ý muốn của Chúa mà muôn vật hiện hữu và được tạo dựng.‘”
Chúng ta phải sống như thế nào thì mới được Chúa xem là nếp sống biết kính sợ Ngài? Những người kính sợ Chúa là người sống trong tinh thần vâng lời Ngài. Một số chuyện tích Kinh Thánh kể lại những gương vâng lời Chúa đáng để suy gẫm. Ông Noah vâng lời Đức Chúa Trời đóng chiếc tàu (Sáng Thế 6:13–14) “Đức Chúa Trời phán với Nôê: ‘Ta đã quyết định tận diệt mọi người, vì do chúng mà thế gian đầy dẫy điều hung bạo. Nầy, Ta sẽ tiêu diệt chúng khỏi mặt đất. Con hãy đóng một chiếc tàu bằng gỗ Gopher, chia thành từng phòng và trét nhựa chai cả trong lẫn ngoài.‘” Nhờ đó ông và cả gia đình thoát chết trong cơn đại hồng thuỷ. Noah là tổ phụ cuối cùng trước cơn đại hồng thuỷ. Những chi tiết về việc đóng tàu của ông rất đáng nể phục. Thời ấy chưa có dụng cụ bằng sắt thép nên chưa có cưa để xẻ gỗ thành ván. Tất cả đều phải đẽo bằng rìu đồng. Không ai biết người thời đó làm cách nào để chẻ những cây gỗ lớn rồi đẽo thành ván, cột, xà, thanh ngang. Theo truyền thuyết từ sách cổ thì ông Noah đóng chiếc tàu suốt 120 năm.
Điều đáng nói hơn hết là Noah chưa bao giờ thấy nạn lụt (Hêbơrơ 11:7) “Bởi đức tin, Noah được Chúa cảnh báo về những việc chưa thấy, và ông thành tâm kính sợ, đóng một chiếc tàu để cứu cả nhà mình.” Một số học giả Kinh Thánh nghĩ rằng thời ấy chưa có mưa (Sáng Thế 2:5–6) “Trên đất chưa có bụi cây nào mọc ngoài đồng và cũng chưa có ngọn cỏ nào mọc trong ruộng, vì Jehovah Đức Chúa Trời chưa cho mưa xuống đất, và cũng chưa có người cày xới đất đai. Nhưng có hơi nước từ dưới đất bốc lên, tưới khắp mặt đất.” Vì vậy, đóng một chiếc tàu suốt một trăm hai chục năm trên đất khô chỉ vì tin lời Đức Chúa Trời cho biết sẽ có cơn lụt lớn, là một việc khiến mọi người chung quanh sẽ ngạc nhiên đặt câu hỏi hoặc chê cười. (2Phierơ 2:5) viết: “Nếu Ngài chẳng dung thứ thế gian xưa, nhưng dùng trận lụt lớn tiêu diệt thế giới vô đạo đó, chỉ giữ lại Noah, người truyền giảng về sự công chính, và bảy người khác.” Tức là đang khi đóng tàu thì ông Noah truyền giảng về sự công chính. Sách Sáng Thế không nói gì về việc ông Noah rao giảng cho người ta vào thời đại của ông. Nhưng hai sách cổ Jubilees và Sibylline Oracles có ghi (nên ông Phierơ biết).
Thế thì, ông Noah vâng lời Chúa truyền đóng chiếc tàu lớn mà ông chưa từng thấy hoặc biết để cứu cả gia đình thoát khỏi nạn lụt, là điều mà ông cũng chưa từng biết đến bao giờ, chỉ vì lòng ông kính sợ Đức Chúa Trời. Chúng ta không biết rõ Chúa phán và chỉ dẫn ông Noah đóng tàu bằng cách nào. Sách Sáng Thế chỉ tường thuật rất vắn tắt (Sáng Thế 6:15–16) “Con hãy đóng tàu như thế nầy: Chiều dài một trăm năm mươi mét, chiều rộng hai mươi lăm mét, chiều cao mười lăm mét. Con cũng làm một mái che cho tàu, mái lợp cách tàu nửa mét, và trổ một cửa bên hông tàu. Con sẽ làm tầng dưới, tầng giữa và tầng trên.” Vậy mà ông Noah kiên nhẫn đóng hoàn thành một chiếc tàu khổng lồ bằng gỗ. Nhờ đó, vợ chồng ông, ba con trai và ba con dâu được thoát chết trong trận đại hồng thuỷ kinh khiếp chỉ xảy ra một lần trong lịch sử nhân loại.
Một gương nữa trong Kinh Thánh về sự vâng lời vì kính sợ Chúa là ông Abraham, tổ phụ của dân tộc Israel và tất cả các dân Arab ở Trung Đông. Abraham vâng lời Chúa gọi hãy rời khỏi quê hương, dòng tộc, gia đình, ra đi mà không biết mình đi đâu, rồi trở thành tổ phụ của nhiều dân tộc. (Hêbơrơ 11:8) “Bởi đức tin, Abraham vâng lời Chúa gọi, đi đến xứ mình sẽ nhận làm cơ nghiệp; ông đi mà không biết mình đi đâu.” Đức Chúa Trời chỉ dẫn ông đi tới xứ Canaan và kiều ngụ tại đó (Hêbơrơ 11:9a) “Bởi đức tin, ông cư trú trong đất hứa như trên đất ngoại quốc.” Mặc dù Chúa cho ông biết đất ông đang kiều cư là sản nghiệp mà Ngài sẽ ban cho ông (Sáng Thế 15:7) “Đức Jehovah cũng phán với Abram: ‘Ta là Đức Jehovah, Đấng đã đem con ra khỏi Ur thuộc Chalde, để ban cho con đất nầy làm sản nghiệp.‘” Rồi Chúa lại cho Abraham biết tương lai đen tối của dòng dõi của ông là bị làm nô lệ trong bốn trăm năm. Tới thế hệ thứ tư họ mới nhận được đất ấy làm sản nghiệp (Sáng Thế 15:13–16) “Đức Jehovah phán với Abram: ‘Con phải biết chắc rằng dòng dõi con sẽ làm kiều dân nơi đất khách, phải phục dịch cho dân bản xứ, và bị chúng áp bức trong bốn trăm năm. Nhưng Ta sẽ phán xét dân tộc đã bắt dòng dõi con phục dịch, và sau đó họ sẽ ra khỏi đất đó với rất nhiều của cải. Về phần con, con sẽ hưởng tuổi già hạnh phúc, rồi bình an trở về với tổ phụ mình trong mồ yên mả đẹp. Đến thế hệ thứ tư, dòng dõi con sẽ trở lại đây.’” Thế rồi, tới hơn bốn mươi năm sau, Abraham lại vâng lời dâng đứa con Isaac yêu quý của mình làm sinh tế.
Nhờ hành động vâng lời Chúa vì kính sợ Ngài, Abraham được Chúa ban phước (Sáng Thế 22:15–18) “Thiên sứ của Đức Jehovah từ trời gọi Abraham lần thứ nhì và bảo: ‘Đức Jehovah phán: Vì con đã làm điều nầy, không tiếc con mình, dù là đứa con duy nhất của con, nên Ta lấy chính mình mà thề rằng, Ta sẽ ban phước dồi dào cho con, làm cho dòng dõi con đông như sao trời, nhiều như cát biển, và dòng dõi con sẽ chiếm được cổng thành quân địch. Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sẽ nhờ dòng dõi con mà được phước, vì con đã vâng lời Ta.” Niềm kính sợ thánh của các vị tổ phụ đức tin thời xưa phải là gương để chúng ta ngày nay noi theo. Đức Chúa Trời không thể ban phước cho những người coi thường Ngài. Không người nào trong chúng ta muốn bị tai hoạ. Vì vậy, hãy tỉnh thức luyện tập niềm kính sợ thánh. Điều đó không tự động đến. Phước lành hay bị trừng phạt là do quyết định của mỗi cá nhân trước mặt Chúa.
KinhSoDucJehovah24.docx
MS CTB