Thời Thái Cổ, 02

Sáng-thế-ký 12:1–3

“Đức Jehovah phán với Abram: ‘Hãy ra khỏi quê hương, bà con thân tộc và nhà cha của con để đi đến vùng đất Ta sẽ chỉ cho con. Ta sẽ làm cho con thành một dân lớn, Ta sẽ ban phước cho con, làm rạng rỡ danh con, và con sẽ thành một nguồn phước. Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước con, nguyền rủa kẻ nào nguyền rủa con; mọi dân trên đất sẽ nhờ con mà được phước.‘”

Kinh-thánh Cựu Uớc ghi chép chủ yếu về nguồn gốc, tổ tiên và lịch sử của dân tộc Israel, bởi vì chương trình của Đức Chúa Trời cứu độ nhân loại được Ngài thực hiện qua dân tộc ấy. Vì thế, sau ký thuật về nguyên nhân người trên thế giới nói nhiều ngôn ngữ khác nhau, cũng là lý do làm cho họ phân tán khắp địa cầu, sách Sáng-Thế bắt đầu dành riêng nói về gia phả từ đời Sem cho đến Abram, là tổ phụ trực tiếp của người Do-Thái. Từ lúc Sem được một trăm tuổi tới lúc Abram được sinh ra, có tất cả mười đời trong một khoảng thời gian là 290 năm, tức là lúc Sem được ba trăm chín mươi tuổi. Tất cả con và cháu của Sem tới đời thứ chín đều qua đời trước ông tổ của họ. “Sau khi sinh Arphaxad, Sem còn sống được năm trăm năm, sinh thêm con trai con gái.” (11:11).

Cách tính gia phả của người thời ấy chỉ nói về dòng con trưởng nam, họ không nhắc tới hậu duệ của những người con thứ, ngoại trừ Loth, cháu gọi Abram bằng chú, vì cha của Loth là anh ruột của Abram (11:27) “Đây là dòng dõi của Terah: Terah sinh Abram, Nahor và Haran; Haran sinh Loth.” Cũng nên nhắc lại là vào đời Peleg, cháu đời thứ năm của Sem, thì đất bị chia cách ra (10:25) “Người anh tên là Peleg, vì vào thời của ông đất bị chia cách ra;” vì vậy, các dân tộc bị phân tán ở nhiều lục địa. Mọi sử liệu về thời thái cổ được Môise ghi chép lại lúc ông làm con nuôi của công chúa Ai Cập, được học tất cả tri thức của hoàng gia Ai Cập. Môise không ghi lại những trận địa chấn từ hàng ngàn năm trước trong các sách do ông viết. Những người thuộc về lớp hậu bối của ông cũng không nhắc đến. Thời ấy hiện tượng động đất rất hiếm, không động đất nhiều giống như thời tận thế hiện nay.

Terah, cha của Abram, dùng tên cha mình là Nahor, đặt cho người con trai út của ông. Vì vậy người ta thấy có hai người thuộc hai thế hệ ông nội và cháu đều mang tên Nahor. Người thời ấy lập gia đình với những người họ hàng gần gũi với mình; cho nên, hai người vợ của Nahor là con gái của anh cả Haran (11:29) “Abram và Nahor cưới vợ; vợ Abram tên là Sarai, còn vợ Nahor tên là Milcah. Milcah và Iscah là con gái của Haran.” Nghĩa là hai người cháu lấy chú ruột của họ làm chồng. Theo sự giải thích của các nhà nghiên cứu lịch sử Kinh-Thánh, và theo chính lời từ miệng của Abram nói ra, thì Sarai, vợ Abram, là em cùng cha khác mẹ với ông (Sáng-thế 20:12) “Thật ra thì nàng cũng là em gái tôi, em một cha khác mẹ; nhưng tôi đã cưới nàng làm vợ.” Các chi tiết nầy gây nên nhiều thắc mắc cho người thời nay; nhưng vào thời ấy, những người trong cùng một gia đình kết hôn với nhau là chuyện bình thường.

Ur là một thành phố bên bờ sông Euphrates nằm cách ngã ba hợp lưu hai sông Euphrates và Tigris khoảng 100 cây số về phía thượng lưu, và cách vịnh Ba-Tư khoảng 200 cây số về phía Tây Bắc. “Terah dẫn Abram, con trai mình, Loth, con trai Haran, cháu mình, và Sarai, vợ Abram, tức dâu mình, cùng ra khỏi Ur, thuộc xứ Chalde, hướng đến Canaan. Nhưng khi đến Charan thì họ định cư tại đó” (11:31). Không rõ vì lý do gì mà họ định cư tại Charan. Theo các ký thuật ở phần Kinh Thánh nầy, có lẽ sau khi cha ông đã qua đời (11:32) “Terah hưởng thọ được hai trăm lẻ năm tuổi, rồi qua đời tại Charan.” Đức Chúa Trời gọi Abram ra khỏi quê hương, bà con thân tộc và nhà cha mình, để đi đến vùng đất Chúa sẽ chỉ cho.

Năm Abram chào đời thì ông tổ Sem được 390 tuổi. Khi Terah qua đời thì ông tổ Sem đã được 525 tuổi và vẫn còn sống. Nếu dựa vào thứ tự tên các con của Terah và ký thuật về số tuổi thọ của người ở thời kỳ nầy, thì các số tuổi không khớp nhau. Như: “Terah được bảy mươi tuổi, sinh Abram, Nahor và Haran” (11:26). Nhưng sau khi Terah qua đời ở tuổi hai trăm lẻ năm, nếu Abram là con cả thì lúc đó Abram phải là một trăm ba mươi lăm tuổi. Nhưng sách Sáng-Thế thuật Abram rời Charan lúc được bảy mươi lăm tuổi (12:4) “Abram ra đi theo lời Đức Jehovah đã phán bảo; Loth cùng đi với ông. Abram được bảy mươi lăm tuổi khi rời Charan.” Vậy, cách ghi tên những người con vào thời ấy không theo thứ tự lớn nhỏ. Có lẽ Haran là con trưởng và Terah sinh Abram lúc đã được một trăm ba mươi tuổi. Điều đó cũng giải thích lý do Nahor cưới Milcah và Iscah đều là con gái của Haran. Có lẽ Nahor với Milcah và Iscah đồng trang lứa; còn Sarai thì nhỏ hơn Abram mười tuổi.

Kể từ đoạn 12 trở đi, tất cả những biến cố chính đều xoay quanh Abram và con cháu dòng dõi của ông. Thuở ấy, sự thờ kính Đức Chúa Trời chưa thành một tôn giáo có hình thức tổ chức chỉ có tính cách cá nhân. Nếu đọc theo mạch văn ở chỗ nầy, thì việc Chúa gọi Abram lìa bỏ quê hương hình như vào lúc ông ở Charan, khi Terah vừa qua đời. Nhưng chấp sự Etiên, người Do-thái thời Hội-Thánh sơ lập thì giảng rằng: “Đức Chúa Trời vinh quang đã hiện ra cùng tổ phụ chúng ta là Abraham, khi ông còn ở tại Mesopotamia, trước khi đến định cư tại Charan” (Công-vụ 7:2). Như vậy, Đức Chúa Trời hiện ra với Abram lúc ông còn ở xứ Ur. Kinh-Thánh không nói rõ Chúa đã hiện ra như thế nào, hình dạng ra sao. Abram chưa vì cha ông còn sống. Ông vâng lời Chúa lìa quê hương ra đi sau khi Terah đã qua đời.

Abram chưa thể hoàn toàn lìa bỏ dòng tộc gia đình ra đi được khi cha của ông vẫn còn sống. Vì Haran đã chết, còn Nahor thì có tới hai vợ và có lẽ đông con, nên Abram phải phụng dưỡng cha già tới khi cha qua đời. Lời Chúa phán với Abram là: “Hãy ra khỏi quê hương, bà con thân tộc và nhà cha của con để đi đến vùng đất Ta sẽ chỉ cho con” (12:1). Ông vâng lời Chúa nhưng phải đem theo cha và một người cháu, con của ông Haran. Thế nên, họ định cư tại Charan. Có lẽ Terah đã cảm thấy thoải mái khi dừng lại Charan cách thành phố Ur khoảng sáu trăm dặm về hướng Tây-Bắc, quê hương của ông. Charan vẫn còn thuộc xứ Padan-Aram gần thượng nguồn sông Euphrates, có cùng một nền văn hoá Chalde.

Cả xứ Chalde từ Ur cho tới Charan vào thuở đó đều thờ lạy thần mặt trăng tên là Sin; biểu tượng là hình trăng lưỡi liềm. Hơn nữa, các dân tộc vùng Mesopotamia, tức là vùng Lưỡng-Hà, vẫn thờ các tượng ‘teraphyim,‘ tức là hình tượng của các thiên sứ ‘canh giữ‘ (Sáng-thế 31:34) “Rachel đã lấy các tượng thần đó và giấu dưới bành lạc đà rồi ngồi lên trên. Laban lục soát khắp trại nhưng chẳng thấy các tượng thần.” Trong một môi trường thờ lạy hình tượng lan tràn như thế, thì sự thờ kính Đức Chúa Trời của Abram sẽ bị ô nhiễm trầm trọng. Terah lại là một người thờ hình tượng (Giô-suê 24:2) “Joshua nói với toàn dân rằng: Jehovah, Đức Chúa Trời của Israel, có phán: ‘Thuở xưa, tổ phụ các con là Terah, cha của Abraham và Nahor, ở bên kia sông Euphrates và phụng sự các thần khác;‘” vì thế Đức Chúa Trời phải gọi Abram ra khỏi quê hương, bà con thân tộc, và nhà cha của ông, để tâm linh ông không bị ô nhiễm sự thờ cúng thần tượng của những người đồng tộc với ông.

Đức Chúa Trời hứa sẽ ban cho Abram bảy thứ phước (12:2–3) “Ta sẽ làm cho con thành một dân lớn, Ta sẽ ban phước cho con, làm rạng rỡ danh con, và con sẽ thành một nguồn phước. Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước con, nguyền rủa kẻ nào nguyền rủa con; mọi dân trên đất sẽ nhờ con mà được phước.” 1) Ta sẽ làm cho con thành một dân lớn, 2) Ta sẽ ban phước cho con, 3) Ta sẽ làm rạng rỡ danh con, 4) Con sẽ thành một nguồn phước, 5) Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước con, 6) Ta sẽ nguyền rủa kẻ nào nguyền rủa con, 7) Mọi dân trên đất sẽ nhờ con mà được phước.

Lời hứa ban phước cho Abram được Đức Chúa Trời nhắc lại ở nhiều dịp, qua các hình thức khác nhau (Sáng-thế 15: 5–21; 17:4–8; 18:18–19; 22:17–18). Để nhận được tất cả bảy thứ phước đó, Abram phải vâng lời Chúa ra khỏi môi trường bị ô nhiễm hình tượng và sự thờ lạy tà thần. Chúng ta ngày nay cũng vậy. Vì lời hứa cho Abram và con cháu ông cũng dành cho mọi tín hữu ngày nay trên khắp thế giới có đức tin vào Đức Chúa Trời. Lời Chúa qua sứ đồ Phao-lô dạy rằng ngày nay ai thuộc về Đấng Christ, người ấy là con cháu của Abraham (Ga-la-ti 3:29) “Nếu anh em thuộc về Đấng Christ thì anh em là dòng dõi Abraham, tức là những người thừa kế theo lời hứa.” Ai muốn nhận các phước lành, người ấy phải vâng theo tiếng gọi của Đức Thánh Linh để kính thờ và phục vụ Chúa cách trung thành tuyệt đối. Ta chưa thể vâng lời Chúa khi còn để cho cái tôi điều khiển mình.

Ai vâng theo sự chỉ dẫn của Chúa thì Ngài sẽ dùng người đó đem nhiều người đến sự sống. Không gì so được các ơn phước Chúa ban. Được Chúa làm rạng danh thì quý hơn mọi danh vọng chóng tàn của trần gian. Chúng ta chỉ trở nên ích lợi khi làm nguồn phước cho mọi người quanh mình. Ai chúc phước cho người được Chúa quý trọng thì được Ngài ban phước. Người nào đối xử tốt với tín hữu, mà ta không biết lấy gì để đền đáp, thì Chúa sẽ ban phước cho người đó. Trái lại, ai nguyền rủa con cái Chúa sẽ bị Ngài nguyền rủa, chẳng những người đó sẽ không ngóc đầu lên nổi, mà sự huỷ phá thình lình sẽ đến trên người cố ý hãm hại con cái của Chúa. Đem đến ơn phước và hạnh phúc cho nhiều người thì không gì hạnh phúc bằng.

Hãy suy gẫm về các lời hứa tràn trề ơn phước nầy để sẵn sàng vâng theo tiếng gọi của Chúa.

ThoiThaiCo02.docx

MS CTB